Học viên K17 ngành Văn học Việt Nam bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ

08/07/2026

Thực hiện kế hoạch đào tạo và các quyết định của Hiệu trưởng Trường Đại học Hồng Đức, sáng ngày 7/7/2026, tại phòng họp 501 TTTTTV, khoa Khoa học xã hội (KHXH) phối hợp với phòng Quản lý đào tạo (QLĐT) tổ chức họp các hội đồng đánh giá luận văn Thạc sĩ cho học viên Cao học ngành Văn học Việt Nam khóa 17 của Nhà trường. Tới dự phiên khai mạc có TS Lê Thanh Thủy - P. Trưởng phòng QLĐT; PGS. TS Mai Văn Tùng - Trưởng khoa KHXH, PGS.TS Lê Tú Anh - Phó trưởng khoa KHXH và các nhà khoa học đến từ Trường Đại học Hồng Đức, Trường ĐH Sư phạm Huế, Trường Đại học Văn hóa, Thể thao & Du lịch Thanh Hóa.
Media\2004_khxh.hdu.edu.vn\FolderFunc\202607\Images/lv1-20260708030525-e.jpg

 

Thành viên tham gia các hội đồng đánh giá luận văn thạc sĩ là các nhà khoa học đến từ Trường Đại học Hồng Đức (PGS. TS Lê Tú Anh, TS. Hoàng Thị Huệ, TS. Lê Thị Hiền, TS. Lê Thị Nương, TS. Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Thị Hoàng Hương), Trường ĐH Sư phạm Huế (PGS. TS Thái Phan Vàng Anh), Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa (TS. Nguyễn Thị Hà, TS. Hoàng Thị Kim Oanh).

Tại các phiên họp của Hội đồng, các học viên Cao học K17 ngành Văn học Việt Nam đã báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Luận văn, giải trình và trả lời câu hỏi của các nhà khoa học trong một bầu không khí vừa nghiêm túc, đúng quy định; vừa thân mật, gần gũi. Các vấn đề của Văn học Việt Nam được các học viên lựa chọn nghiên cứu đều có ý nghĩa khoa học, thực tiễn, có tính mới và vừa sức với người bước đầu nghiên cứu khoa học.

Trong tiến trình văn học trung đại Việt Nam, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là tác phẩm tiêu biểu, đánh dấu sự phát triển của thể loại ngâm khúc cũng như sự gia tăng mạnh mẽ của cảm hứng trữ tình và ý thức cá nhân trong văn học thế kỉ XVIII. Nghiên cứu Cung oán ngâm khúc từ điểm nhìn lý thuyết giới, học viên Nguyễn Phương Nhi với đề tài “Hình tượng người phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều)” (Người hướng dẫn: TS Lê Thị Nương) đã cho thấy một hướng tiếp cận mới, mở ra những góc nhìn mới, nhằm nhận diện đầy đủ hơn ý nghĩa tư tưởng và giá trị nhân văn của tác phẩm. Hiện nay, lí thuyết giới đã và đang trở thành một công cụ quan trọng trong nghiên cứu văn học, cho phép xem xét văn bản trong mối quan hệ với các cấu trúc quyền lực giới và cơ chế kiến tạo hình ảnh nữ giới trong xã hội. Việc vận dụng lí thuyết giới vào nghiên cứu Cung oán ngâm khúc xuất phát từ chính đặc điểm đối tượng phản ánh của tác phẩm - hình tượng người phụ nữ trong không gian cung đình phong kiến. Tiếp cận tác phẩm của Nguyễn Gia Thiều từ lí thuyết giới cho phép tái định vị hình tượng người cung nữ không chỉ như đối tượng của sự thương cảm mà còn như một chủ thể giới chịu sự chi phối của diễn ngôn phụ quyền, đồng thời làm rõ những biểu hiện tự ý thức và mâu thuẫn giới tiềm ẩn trong tiếng nói trữ tình của nhân vật nữ. Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung một khung lí luận phù hợp nhằm lí giải sâu sắc hơn giá trị tư tưởng của Cung oán ngâm khúc trong văn học trung đại Việt Nam. Luận văn khi hoàn thiện có thể trở thành tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập các học phần Văn học Việt Nam trung đại ở bậc đại học, cũng như môn Ngữ văn ở chương trình phổ thông

Tiểu thuyết chương hồi chữ Hán có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của nền văn học viết Việt Nam. Phần lớn những bài viết, công trình nghiên cứu tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam chủ yếu nghiên cứu những tác phẩm đơn lẻ, so sánh một số tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam với những bộ tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc hoặc tiểu thuyết chương hồi chữ Hán của các nước châu Á khác chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa như Nhật Bản, Triều Tiên-Hàn Quốc... Nghiên cứu chuyên sâu thể loại này còn ít công trình nghiên cứu quan tâm một cách thấu đáo và đúng mức. Đề tài của học viên Lê Huy Thành “Yếu tố hư cấu trong tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam” (Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thanh Hà) đã đóng góp vào quá trình nghiên cứu (còn khá đơn lẻ) về tiểu thuyết chương hồi.  Nghiên cứu yếu tố hư cấu trong văn học cổ trung đại, nhất là ở thể loại tiểu thuyết chương hồi chữ Hán là hướng nghiên cứu có khả năng nhận diện đặc trưng của loại hình, với tư cách những sáng tạo nghệ thuật chứ không đơn giản chỉ là những diễn ngôn lịch sử. Ngoài việc làm rõ những giá trị nghệ thuật, giá trị nội dung tư tưởng cùng những giới hạn của thể loại văn học này, luận văn đánh giá vị trí của tiểu thuyết chương hồi chữ Hán Việt Nam trong tiến trình phát triển của văn học, của văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng. Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, học tập của sinh viên các trường đại học và học sinh THPT, phần văn học Trung đại Việt Nam.

Học viên Lê Việt Hoàng với đề tài “Tập truyện Cánh đồng bất tận và tiểu thuyết Sông của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa” (người hướng dẫn khoa học: Ts Lê Thị Hiền) đã đáp ứng tính cấp thiết, yêu cầu khoa học và thực tiễn trong lựa chọn vấn đề nghiên cứu. Trong nghiên cứu văn học hiện đại, việc tiếp cận tác phẩm từ góc nhìn văn hoá được xem là một hướng nghiên cứu quan trọng, có tính hệ thống và khả năng lý giải sâu sắc. Văn học, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, không tồn tại như một chỉnh thể tự trị, tách rời đời sống, mà luôn hình thành và vận động trong mối quan hệ hữu cơ với văn hoá – môi trường sản sinh và chi phối đời sống tinh thần của con người. Thế giới nghệ thuật của nhà văn Nam Bộ Nguyễn Ngọc Tư được kiến tạo trên nền tảng của không gian văn hoá đặc thù, nơi các yếu tố tự nhiên, sinh hoạt, ngôn ngữ và tâm lí cộng đồng hòa quyện, tạo thành một chỉnh thể mang đậm dấu ấn văn hoá Nam Bộ. Trong số các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư, Cánh đồng bất tậnSông là hai tác phẩm tiêu biểu, thể hiện rõ sự gắn bó giữa thế giới nghệ thuật của nhà văn với không gian văn hoá Nam Bộ. Cánh đồng bất tận phản ánh không gian đồng bằng sông nước như một không gian sinh tồn đặc thù, nơi con người chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện tự nhiên và các mối quan hệ cộng đồng truyền thống. Qua đó, tác phẩm làm nổi bật những đặc trưng văn hoá như tâm lí cam chịu, ý thức gia đình, lối sống du canh - du cư, cũng như hệ thống ngôn ngữ giàu màu sắc địa phương. Trong khi đó, Sông mở rộng phạm vi phản ánh từ không gian sinh tồn truyền thống sang không gian văn hoá của đời sống đương đại, nơi các giá trị văn hoá cũ và mới va chạm, đứt gãy và tái cấu trúc. Hình tượng dòng sông trong tác phẩm không chỉ mang ý nghĩa tả thực mà còn được kiến tạo như một biểu tượng văn hoá, gắn với lịch sử, ký ức và thân phận con người trong bối cảnh biến đổi xã hội. Việc nghiên cứu Cánh đồng bất tậnSông dưới góc nhìn văn hoá cho phép làm sáng tỏ một cách hệ thống những biểu hiện đặc trưng của văn hoá Nam Bộ được kết tinh trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Thông qua việc khảo sát các biểu hiện văn hoá tiêu biểu như không gian sông nước Nam Bộ, đời sống du cư, thân phận con người và sự rạn nứt của các giá trị văn hoá truyền thống, đề tài hướng tới việc nhận diện những đặc trưng văn hoá Nam Bộ được phản ánh nhất quán trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Đồng thời, bằng phương pháp so sánh – đối chiếu, đề tài làm rõ sự khác biệt trong cách tổ chức không gian văn hoá, xây dựng chủ thể văn hoá và biểu hiện cảm thức văn hoá giữa Cánh đồng bất tậnSông. Qua đó, góp phần làm sáng tỏ sự vận động trong tư duy nghệ thuật và nhận thức nhân sinh của Nguyễn Ngọc Tư dưới lăng kính văn hoá. Đề tài của học viên Lê Việt Hoàng đáp ứng yêu cầu khoa học và thực tiễn, góp thêm tư liệu tham khảo cho việc học tập, giảng dạy văn học Việt Nam đương đại trong nhà trường phổ thông.

Đề tài "Thơ Phạm Tiến Triều từ góc nhìn văn hóa" được thực hiện bởi học viên Trần Quang Huy (dưới sự hướng dẫn của TS Hoàng Thị Huệ). Phạm Tiến Triều là một giọng thơ có bản sắc riêng, mang đậm dấu ấn văn hóa dân tộc Mường (Thanh Hóa). Thơ ông được hình thành từ nền tảng vững chắc của văn hóa bản địa, thấm đẫm hơi thở của một không gian văn hóa với phong tục, tập quán, tín ngưỡng. Không chỉ là sự tái hiện đời sống văn hóa truyền thống, thơ Phạm Tiến Triều còn cho thấy nỗ lực dung hòa giữa các giá trị văn hóa bản địa với những xúc cảm, suy tư của con người hiện đại. Chính điều đó đã tạo nên một thế giới nghệ thuật vừa mang tính dân tộc sâu sắc, vừa có khả năng đối thoại với đời sống đương đại, góp phần khẳng định vị trí của Phạm Tiến Triều trong thơ Việt Nam hiện đại, đặc biệt là mảng thơ dân tộc thiểu số. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, vấn đề nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc đang trở thành mối quan tâm lớn của nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có văn học. Nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa, dù không còn là hướng nghiên cứu mới nhưng vẫn là một hướng nghiên cứu quan trọng trong giải mã các giá trị thẩm mĩ, khơi dậy và lan tỏa những di sản tinh thần quý báu, từ đó bồi đắp lòng tự hào và định hình nhân cách, lối sống cho thế hệ trẻ. Tiếp cận thơ Phạm Tiến Triều từ góc nhìn văn hóa cho phép người nghiên cứu khám phá không gian nghệ thuật đậm bản sắc văn hóa Mường, nhận diện những giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn, tái hiện và sáng tạo bằng cảm quan nghệ thuật hiện đại. Thông qua đó, có thể thấy rõ sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái riêng của văn hóa dân tộc Mường với cái chung của văn hóa Việt Nam. Đồng thời, hướng nghiên cứu này cũng góp phần làm rõ vai trò và ý thức của người cầm bút trong việc gìn giữ, truyền bá và làm giàu thêm vốn văn hóa dân tộc trong đời sống văn học đương đại. Đây không chỉ là một vấn đề có ý nghĩa học thuật mà còn mang giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc bồi dưỡng tình yêu quê hương, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Kết quả nghiên cứu của luận văn đã làm rõ những nét tiêu biểu trong bản sắc văn hóa dân tộc Mường thơ Phạm Tiến Triều; Chỉ ra sự tác động/ảnh hưởng của cảm thức/tư duy văn hóa đến việc lựa chọn và sử dụng các phương thức nghệ thuật và ở chiều ngược lại, nhận diện rõ hơn ý nghĩa thẩm mĩ của những phương thức đó đến việc thể hiện những nét bản sắc văn hóa. Luận văn cũng góp thêm một minh chứng cụ thể, sinh động về mối liên hệ giữa văn hóa - văn học, khẳng định giá trị khoa học/tính thực tiễn của việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa và những đóng góp nổi bật cũng như vị trí của nhà thơ Phạm Tiến Triều trong mảng thơ các dân tộc thiểu số nói riêng, thơ ca đương đại Việt Nam nói chung.

Luận văn "Cảnh quan Xứ Thanh trong thơ Văn Đắc và Nguyễn Minh Khiêm” được thực hiện bởi học Đàm Thị Tâm (dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Lê Tú Anh). Vận dụng lý thuyết phê bình cảnh quan (Landscape Criticism) - một hướng tiếp cận mang tính liên ngành, tác giả luận văn đã có những kiến giải mới về thế giới nghệ thuật thơ Văn Đắc và Nguyễn Minh Khiêm. Cảnh quan không tự nhiên mang sẵn ý nghĩa, nó được kiến tạo, được định hình thông qua trải nghiệm, ký ức và phông văn hóa của chủ thể. Phê bình cảnh quan giải mã cách thức định hình, kiến tạo cảnh quan, qua đó tìm kiếm những ẩn ý về phong tục, tín ngưỡng, chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa, ý nghĩa xã hội và môi trường mà tác giả muốn truyền tải. Phê bình cảnh quan khởi phát từ kiến trúc và ngày càng được vận dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực. Đối với văn học, phê bình cảnh quan gắn với việc tìm kiếm, giải mã sự định hình, kiến tạo không gian địa lý, văn hóa, bản sắc và trải nghiệm trong tác phẩm, từ đó khám phá ý nghĩa xã hội và môi trường của chúng. Tiếp cận văn học từ góc nhìn cảnh quan, người nghiên cứu có thể vận dụng cả tri thức địa lý, môi trường, kiến trúc, mỹ học, lịch sử, phong tục, tín ngưỡng, nhân văn... kết hợp với nghiên cứu không gian như là một thành tố của thi pháp nghệ thuật. Việc vận dụng lý luận về phê bình cảnh quan để nghiên cứu cảnh quan Xứ Thanh trong thơ Văn Đắc và Nguyễn Minh Khiêm giúp người nghiên cứu vừa thấy được rất nhiều khía cạnh khác nhau của đất và người Thanh Hóa - một vùng “địa linh nhân kiệt”; vừa làm rõ nhiều đặc điểm của chủ thể trữ tình, cũng là cá tính sáng tạo của hai nhà thơ. Kết quả nghiên cứu làm rõ cách thức kiến tạo cảnh quan Xứ Thanh trong thơ Văn Đắc, Nguyễn Minh Khiêm, ghi nhận những đóng góp của hai nhà thơ trong việc bồi đắp bản sắc thơ ca Xứ Thanh và làm phong phú thêm diện mạo thơ Việt Nam hiện đại. Bên cạnh ý nghĩa học thuật, luận văn còn cung cấp thêm nguồn tư liệu tham khảo phục vụ việc học tập và giảng dạy thơ ca trong nhà trường phổ thông, có thể vận dụng hiệu quả vào nghiên cứu chuyên đề văn học địa phương và dạy học liên môn, qua đó bồi dưỡng cho học sinh tình yêu quê hương, ý thức gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Đề tài “Thời gian, không gian nghệ thuật trong thơ Từ Nguyên Tĩnh” được thực hiện bởi học viên Ngô Thị Phương Thảo (dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Lê Tú Anh). Việc nghiên cứu thơ Việt Nam hiện đại từ các yếu tố cấu thành thế giới nghệ thuật như thời gian và không gian, là một hướng nghiên cứu tuy không phải mới nhưng vẫn là hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần làm rõ những đặc điểm tư duy và phong cách sáng tác của từng tác giả. Thời gian và không gian nghệ thuật là những yếu tố quan trọng góp phần tổ chức thế giới hình tượng và thể hiện tư duy nghệ thuật của nhà thơ. Thông qua cách kiến tạo thời gian và không gian, tác giả không chỉ tái hiện hiện thực, mà còn bộc lộ cảm thức lịch sử, quan niệm về con người và những suy tư mang tính triết luận. Từ Nguyên Tĩnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ Từ Nguyên Tĩnh mang giọng điệu riêng, thể hiện rõ ý thức tìm tòi, đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Bên cạnh đó, thơ ông vẫn duy trì mối liên hệ bền chặt với thơ ca truyền thống, thể hiện ở cảm thức nhân văn, ở sự trân trọng những giá trị văn hóa và lịch sử. Thông qua cách kiến tạo thời gian và không gian, thơ Từ Nguyên Tĩnh không chỉ tái hiện hiện thực, mà còn bộc lộ cảm thức lịch sử, quan niệm về con người và những suy tư mang tính triết luận. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã góp phần nhận diện đầy đủ hơn những đóng góp của nhà thơ trong thơ ca Việt Nam hiện đại, đồng thời mở rộng hướng tiếp cận thi pháp đối với việc nghiên cứu thơ ca Việt Nam đương đại.

Cả 6 đề tài luận văn của học viên K17 ngành Văn học Việt Nam đều được các hội đồng đánh giá có ý nghĩa khoa học, thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của luận văn Thạc sĩ và có những đóng góp nhất định cho khoa học chuyên ngành; góp phần phát triển năng lực, phẩm chất của người học, phục vụ đắc lực cho các vị trí công việc, đặc biệt công việc dạy học ở nhà trường phổ thông. Kết quả luận văn là sự nỗ lực của học viên, sự tận tình giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu của giảng viên. Kết quả này thêm một lần khẳng định năng lực đào tạo ngành Văn học Việt Nam ở bậc cao của Nhà trường.

Một số hình ảnh của buổi bảo bệ Luận văn Thạc sĩ K17 Văn học Việt Nam

Media\2004_khxh.hdu.edu.vn\FolderFunc\202607\Images/lv4-20260708030724-e.jpg

 

 

Media\2004_khxh.hdu.edu.vn\FolderFunc\202607\Images/lv6-20260708031032-e.jpg

 

Media\2004_khxh.hdu.edu.vn\FolderFunc\202607\Images/lv7-20260708031125-e.jpg

 

Media\2004_khxh.hdu.edu.vn\FolderFunc\202607\Images/lv9-20260708030747-e.jpg

Tin bài: Hoàng Huệ

 

Tin nổi bật

Tuyển sinh

TIN LIÊN QUAN